Tản mạn Văn học.

Đọc “ Khi Đồng Minh Nhảy Vào” của tác giả Nguyễn Tiến Hưng.

Nguyễn Mạnh Trinh.

Phần 1

Khi Đồng Minh Nhảy Vào là tác phẩm thứ tư của giáo sư Nguyễn Tiến Hưng sau các tác phẩm Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập, Khi Đồng Minh Tháo Chạy và Tâm Tư Tổng Thống Thiệu. Tác phẩm này  có nguồn gốc từ 7000 trang tài liệu hồ sơ” History  of United States Decision     -Making Process  on Việt Nam Policy, 1945-1967” vừa được giải mật vào năm 2011 với thật nhiều khám phá mới lạ để soi sáng một phần nào những bí ẩn về cuôc chiến đã có những hậu quả hết sức nghiêm trọng cho lịch sử Việt Nam và Hoa Kỳ.

Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến  đầy phức tạp và tới nay vẫn còn  ẩn chứa nhiều bí mật dù rằng đã có nhiều tài liệu được giải mật nhưng nhiều câu hỏi  vẫn được đặt ra về những biến cố chính trị xảy ra trong  việc can thiệp của Hoa kỳ vào một đất nước xa xôi và sự hiểu biết về nơi chốn ấy còn nhiều hạn chế.

Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng và bộ sách về chiến tranhViệt Nam  hình như có mục đích làm sáng tỏ thời sự để trả lời những câu hỏi khó ấy. Với tác phẩm mới nhất “ Khi Đồng Minh Nhảy Vào”, một thời kỳ lịch sử khá dài từ năm 1945 tới bây giờ đã được nhìn ngắm qua  hai cuộc chiến với những chi tiết rõ ràng và một bố cục mạch lạc trải dài qua hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa cho đến khi Cộng sản Bắc Việt chiếm được cả hai miền Nam Bắc. Từ sự nghiền ngẫm những tài liệu được giải mật đến những hiểu biết của một chính khách đã có qúa  nhiều kinh nghiệm thực tế, tác phẩm này đầy những khám phá làm cho độc giả sẽ vô cùng thích thú và ngạc nhiên. Chuyện cũ đã qua hơn nửa thế kỷ nhưng vẫn mới lạ và đầy khám phá…

Theo trang bìa sách thì tiểu sử của tác giả, Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng du học ở Hoa Kỳ từ năm 1958 đã từng giảng dạy môn kinh tế tại các đại học Hoa Kỳ từ năm 1963 và là kinh tế gia cho Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF)( 1966-1970). Về nước ông là Phụ tá Tổng Thống về Tái Thiết(1973),Tổng Trưởng Kế Hoạch và Phát Triển(1873-1975) đồng thời là người điều phối viện trợ về mặt kinh tế vĩ mô.

Ngoai cuốn sách The Palace File( Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập) với Jerrold Schecter, ông còn là tác giả của “ Khi Đồng Minh Tháo Chạy”, “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” và nhiều cuốn sách về môn kinh tế. Về xã luận ông viết cho tờ Washington Post , The NewYork Times, International Herald Tribune, The Washington Star and Daily New. Trong thập niên 1990, ông làm cố vấn cho Quỹ Tiền Tệ Quốc tế IMF và nagn hàng Thế Giới  WB về nhiều dự án chuyển đối kinh tế và cứu đói giảm nghèo, kể cả tại Việt Nam sau đổi mới.

Đuợc biết  chính Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng trong những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa  năm 1975  đã mang những tài liệu cam kết của Tổng Thống Nixon với Tổng Thồng Nguyễn Văn Thiệu với sứ mệnh sang Hoa kỳ để xin  quân viện trong nỗ lực còn nước còn tát để mong cứu vãn tình thế…

Tác phẩm “ Khi Đồng Minh Tháo Chạy “ có nội dung từ kinh nghiệm bản thân của tác giả trong chính trường là dữ liệu và chứng tích để tìm hiểu hoàn cảnh của  Đệ Nhị Công Hòa vào lúc hạ màn.  Trong khi “ Khi Đồng Minh Nhảy  Vào” phát xuất từ những tài liệu được giải mật, dựa vào những chứng có khả tín, những tài liệu nguyên thủy để tìm hiểu đến tận gốc rễ những diễn tiến của bang giao Việt Mỹ trong giai đoạn  20 năm trước Đệ Nhị Cộng Hòa.

Tác phẩm Khi Đồng Minh Nhay  Vào  là tác phẩm kế tiếp của Khi Đồng Minh Tháo Chạy trong bố cục của một bộ sách về chiến tranh Việt Nam. Với cuốn KĐMTC tác giả đã viết với các dữ liệu và chứng tích để tìm hiểu những nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của Đệ Nhị Cộng Hòa cũng như tình cảnh của miền nam Việt Nam khi đồng minh bỏ rơi. Còn cuốn KĐMNV thì tác giả nghiên cứu thật sâu rộng và kỹ lưỡng dựa vào những tài liệu chứng cớ có thể tin tưởng được sự chính xác và là những tài liệu nguyên thủy không bị cắt xén hoăc làm thay đổi nội dung để tìm hiểu cho thật rõ những diễn tiến của liên lạc bang giao Việt Mỹ trong giai đoạn  20 năm trước Đệ Nhị Cộng Hòa( 1945-1965).

Và với hai tác phẩm này, một giai đoạn lịch sử kéo dài suốt hơn nửa thế kỷ đã được nhìn ngắm lại với tâm thức  suy tư của người Việt Nam. Truớc  đây, tiếng nói của người Việt Nam khi nhận định về cuộc chiến bị xem nhẹ so với nhận định của phong trào phản chiến  ở Hoa Kỳ và nhận định của phe Cộng sản Bắc Việt. Do đó, đã có những nhận định sai lầm cho rằng quân lực VNCH hèn nhát không chịu chiến đấu nên bị thua trận. Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng, dựa trên những chứng cớ xác thực để giúp độc giả và dư luận hiểu rõ được sự thực xảy ra trong cuộc chiến và cũng là một cung cách lập lại sự công bằng cho lịch sử.

Với  lịch sử là một thời gian quá dài và một không gian quá rộng bao trùm cả thế giới, viết một bộ sách lịch sử thời hiện đại ấy, tác giả đã phãi cố công dành thời giờ và tâm trí để hoàn thành. Từ 7 ngàn trang tài liệu nguyên thủy với thật nhiền chi tiết phức tạp nhiều khi mâu thuẫn nhau, để chọn lọc thành cái nhìn nhất quán của  một bộ sách diễn tả mạch lạc và bố cục rõ ràng thì người thực hiện công việc ấy phải có cái tâm của người yêu đất nước và cái  kiến thức của người đã có nhiều kinh nghiệm chính trường cũng như thông hiểu về cả lý thuyết lẫn thực tế của bang giao hai nước Việt Mỹ để có cái nhìn xuyên suốt qua các biến cố các dữ kiện. Đọc những trang sách, có cái thú vị của người đi tìm kiếm với sự háo hức của người muốn đi tìm sự thực.

Mỹ vào rồi Mỹ Đi, từ buổi bình minh của Đệ Nhất Cộng Hòa đến lúc hoàng hôn tàn cuộc của Đệ nhị Cộng Hòa, dường như có nhiều điều trùng hợp của định mệnh quốc gia? Thí dụ như ngày 30 tháng tư năm 1955 truất phế  Quốc Trưởng Bảo Đại suy tôn Tổng Thống Ngô Đình Diệm thành lập Đệ Nhất Cộng Hòa và 30 tháng tư năm 1975  sụp đổ  Đệ Nhị Cộng Hòa.

Ngày 28 tháng tư năm 1955, quân Pháp hoàn toàn rút khỏi Việt nam và chấm dứt  80 năm thưc dân Pháp đô hộ. Cùng trong ngày, QUÂN Bình Xuyên nổ súng tấn công Dinh Độc Lập mở màn cho trân chiến ở thủ đô Sài Gòn. Quân đội Quốc Gia đẩy lui quân Bình Xuyên ra Rừng Sát. Ngày 29 tháng tư , Hội Đồng Nhân dân Cách Mạng họp tại Dinh Độc Lập ủng hộ Thủ Tướng Ngô Đình Diềm và truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại. Ngày 30 tháng tư,  200 thành viên của “ Đại Hội Các Lưc Lượng Quốc Gia” họp tại Phòng Khánh Tiết Tòa Đô Chính Sai Gòn đồng thanh ủng hộ việc truất phế ông Bảo Đại và đại diện là  các tướng Trình Minh Thế, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Giác Ngộ đến Dinh Độc Lập thông báo cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Và chính ngày đó cũng là khởi điểm hình thành một Miền Nam Tự Do  bước đầu để kiến tạo nền Đệ Nhất Cộng Hòa.

Còn ngày 30 tháng tư năm 1975, quân Cộng Sản Bắc Việt tiến vào thủ đô Sài Gòn sau khi Tổng Thống một ngày rưỡi DươngVăn Minh ra lệnh cho quân đội VNCH buông súng đầu hàng. Và ngày  30 tháng tư năm 1975  nền Đệ Nhị  Việt Nam Cộng Hòa bị khai tử và  Cộng sản Bắc Việt chiếm được cả nước thực hiện một chính sách trả thù đầy ải  toàn dân Miền Nam khiến cả triệu người phải bỏ nước ra đi.

Hay định mệnh  đất nước Việt Nam cũng từ tên Henry trong vai trò đao phủ chấm dứt Đệ Nhất Cộng Hòa của Đại Sứ Henry Cabot Lodge  và  khai tử Đệ Nhị Cộng Hòa của Ngoại trưởng Henry Kissinger. Henry Cabot Lodge, người  đã cố tâm loại trừ Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong khi Henry Kissinger là người đã băt` tay với Trung CỘng và ký hiệp ước Paris để cán cân quyền lực nghiêng về phía Bắc Việt dẫn đến biến cố bi thảm 30 tháng tư năm 1975. Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng đã dùng danh từ khá nặng là “ đao phủ thủ”để chỉ đích danh hai nhân vật này với nhiều chứng cớ xác thực rút ra từ những khám phá ghi chép lại từ những tài liệu tối mật vừa được  giải mật.

Cũng có những trùng hợp kỳ lạ trong lịch sử Việt Nam xảy ra. Đại Tướng De Lattre de Tassigny là người thực tâm yểm trợ việc thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam với mục đích là để Pháp rút khỏi Biệt Nam trong danh dự. Và ông có một người con độc nhất là Trung úy Bernard  de Lattre tử trận ngày 30 tháng 5 năm 1951 ở Ninh Bình. Ông đã tâm sự với Quốc Trưởng Bảo Đại khi  ông này tuyên dương con  của ông:” Thưa Hoàng Thượng con trai Bernard của tôi không phải chết cho nước Pháp. Thế mà trên mộ bia của nó, người ta lại viết lên như vậy. Nó chết ở Ninh Bình.. Bernard đã chết cho Việt Nam.”Điều trùng hợp là Đại sứ  Hoa Kỳ Graham Martin có một người con trai là Trung úy Glenn Dill Martin là một phi công trực thăng bay gunship đã bị phòng không Bắc Việt bắn tơi trong trận đánh tại Thạch Trụ gần căn cứ Chu Lai tháng 11 năm 1965 và được chôn cất tại nghĩa trang Arlington National Cemetery. Từ trùng hợp này có phải những nhân vật như Đại Tướng De Lattre và Đại Sứ Martin đã tranh đấu cho VNCH  một phần vì có người thân tử trân trong cuộc chiến này?

Có một câu hỏi được độc giả đặt ra là tác` giả Khi Đồng Minh Nhảy Vào có chịu ảnh hưởng từ  tác phẩm The Pentagon Papers của báo NewYork Times  và Gravel Edition của nghi sĩ Mike Gravel? Và gía  trị  tài liệu của giáo sư Warren Nutter” United States- Việt nam Relations. 1945-1967” trong việc biên soạn của ông?

Trong bài tựa, tác giả viết:” Bởi vậy ngay từ năm 1976, chúng tôi đã bắt` đầu đọc một số sách về Việt Nam đặc biệt là cuốn The Pentagon Papers và cố nhớ lại những gì liên hệ tới cuộc chiếnmà mình đã được chứng kiến ngay tại thủ đô Washington từ cuối thập niên 1950. Đang khi làm như vậy thì chúng tôi lại có được một may mắn. Cựu Phụ tá Bộ Trưởng Quốc Phòng( thời TT Nixon) là Tiến sĩ Warrren Nutter( ông thầy cũ của tôi ở Đại Học Virginia) đã trao lại cho chúng tôi( như một kỷ vật) hầu như toàn bộ một hồ sơ do Bộ Quốc Phòng  Hoa kỳsoạn thảo trước khi ông ra đi vào thế giới bên kia năm 1979( cũng như chúng tôi đã may mắn “ hay chỉ vì cái sứ mệnh” được TT Thiệu trao cho hồ sơ về những cam kết của TT Richard Nixon đối với VNCH và Đại sứ Graham Martin trao cho trên 20 công hàm tối mật giữa Ngoại Trưởng Kissinger và ông vào tháng 4 năm 1975). Tên chính thức của tài liệu mà Giáo sứ Nutter đưa cho là United States- Việt Nam Relations 1945-1967. Đây là một hồ sơ tối mật dài tới gần 7000 trang gồm 12 tập. Năm 1971 tài liệu này bị tiết lộ. Chính phủ Nixon( gồm cả ông thầy Nutter của tôi) náo động và đã kiện không cho phổ biến nhưng Tối Cao Pháp Viện phán quyết chính phủ thua( kết quả số phiếu6/3). Chúng tôi còn nhớ rõ cảm tưởng của riêng mình vào ngày tuyên bố phán quyết ấy. Báo New York Times trích dẫn tài liệu và xuất bản cuốn The Pentagon Papers. Sau đó chính phủ phải nộp hồ si này cho Uy ban Quốc Phòng Hạ Viện. Nghị sĩ Mile Gravel trích dẫn và xuất bản một cuốn sách cùng tên nhưng thêm tựa đề là Gravel Edition( Beacon Press. 1971). Tài liệu giáo sư Nutter trối lại cho chúng tôi là hầu như toàn bộ hồ sơ Bộ Quốc Phòng…”

The Pentagon Papers mà tên chính thức là United States- Viêt Nam Relations, 1945-1967: A Study Prepared by The Department of Defense” ghi chép lại lịch sử của sự can thiệp về chính trị và quân sự trong thời gian kể trên. Hồ sơ này bị Daniel Elsberg làm việc tại RAND Corporation khám phá và tiết lộ trên trang  chính của báo New York Times năm 1971 và đã gây ra ảnh hưởng rất mạnh và làm đầu đề cho phong trào phản chiến kết tội chính quyền Johnson nói láo và lừa dối không những công luận mà còn cả với quốc hội nữa. Elsberg đã  xử dụng một phần của tài liệu này với chủ đích phản chiến, đã tiết lộ nhiều bí mật  của chính quyền  dưới thời TT Johnson như tăng cường độ chiến tranh, oanh tạc Cambodia và Lào, cũng như  không kích bờ biển Bắc Việt và xử dụng Thủy Quân Lục Chiến tấn công quân Cộng sản ở miền nam Việt Nam mà không thông báo cho  giới truyền thông .Lúc đầu, Daniel bị truy tố và chịu bản án tù tới 115 năm về tội danh làm gián điệp và ăn cắp tài sản quốc gia nhưng sau đó vì ảnh hưởng của biến cố Watergate nên được tha bổng. Hồ sơ  này được giải mật hoàn toàn vào tháng 6 năm 2011.

Với một di sản của một hồ sơ to lớn như thế, phải nói là tác giả Khi Đồng Minh Nhảy Vào rất khó khăn khi đi lạc vào một khu rừng rậm rạp của 7000 trang tài liệu đầy những chi tiết bí ẩn chứa đựng đằng sau những ngôn từ về chính trị, quân sự ngoại giao mà tính chất bóng bẩy của từng loại ngôn từ có thể làm sai lạc những nhận định nếu không cẩn thận phân tích và tìm hiểu. Thành ra, dù có đầy đủ tài liệu dữ kiện, chưa chắc những cuốn sách viết ra bảo đảm sự trung thực cần thiết mà tài liệu chứa đựng. Từ 7000 trang sách để chỉ còn có 677 trang trong ấn bản The Pentagon Papers của NYT(chỉ khoảng 10% của hồ sơ) hay cũng chỉ 2899 trang của ấn bản The Pentagon Papers  của Gravel Edition( cũng chỉ 41%).

Riêng với giáo sư Nguyễn Tiến Hưng, thì ông hiểu rằng thời gian hai mươi năm trước khi Thủy Quân Lục Chiến Hoa Ky đổ bộ vào Đà Nẵng là một giai đoạn hết sức phức tạp với quá nhiều diễn biến, sự kiện cũng như rất nhiều nhân vật chính khách tham dự vào. Do đó ông đã có chủ đích đúc kết những điều đã tìm hiểu được để viết nên một câu chuyện lịch sử cho có đầu có đuôi mạch lạc nhưng vắn gọn về bang giao liên lạc Việt Mỹ từ khi Thế Chiến thứ hai kết thúc qua Chiến Tranh Đông DươngI rồi tới  Đệ Nhất Cộng Hòa.

Cũng như nội dung của cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy, khi viết Khi Đồng Minh Nhảy Vào, tác giả chỉ đề cập đến những động lực, chính sách và hành động của Hoa Kỳ đối với Việt Nam và không đề cập đến những chi tiết của những khía cạnh chính trị và quân sự nội bộ của VNCH vì những khía cạnh ấy đã có nhiều  bình luận gia viết rồi và mổ xẻ sâu rộng rồi.

Trong 7 đời  Tổng Thống Hoa Kỳ : TT Roosevelt, TT Harry Truman, TT Eisenhower, TT Kennedy, TT Johnson, TT Nixon, TT Ford,chính sách của Hoa kỳ đối với Việt Nam  đã thay đổi nhiều lần và chính sự  thay đổi chính sách là một nguyên nhân khiến Mỹ phải rút khỏi Việt Nam.Vai trò của Hoa Kỳ rất quan trọng trong cục diện thế giới chứ không phải riêng với Việt Nam và trong thời điểm sau Đệ Nhị Thế Chiến, chưa có quốc gia nào giàu mạnh lên được mà không nhờ đến Hoa Kỳ. Nhưng những tiểu quốc khi liên hệ với Hoa kỳ thì cần phải tìm hiểu về văn hóa, chính trị, luật pháp, thể chế và nhất là quyền lợi của Hoa Ky để có những đối sách thích hợp. Về bình diện này thì VNCH  đã không lưu ý phần lớn là vì sự khiếm khuyết về tài chính và nhân sự. Do đó, bang giao Việt Mỹ thời Đệ Nhất Công Hòa đã có nhiều hiểu lầm lớn lao giữa hai chính phủ gây nên những tình huống thật đáng tiếc. Nói chung là 5 đời TT Hoa Kỳ đầu tiên vẫn duy trì chính sách giúp đỡ VNCH  để làm một tiền đồn của   Thế Giới Tự Do ngăn chặn sự bành trướng của Cộng sản Trung Quốc. Chỉ đến thời TT Nixon,  ngoại trưởng  Henry Kissinger đi đêm và bắt tay với Mao Trạch Đông thì chính sách mới đổi để rút quân khỏi Việt Nam.

Những người phản chiến và cả hệ thống tuyên truyền của Cộng Sản Bắc Việt cho rằng Thủ tướng Ngô Đình Diệm là do Hoa Kỳ đưa về Việt Nam nhận chức do sự tiến cử của Hồng Y Spellman với các Thượng Nghị Sĩ Công Giáo như John F. Kennedy và Mike Mansfield. Điều ấy có chính xác không? Và sự thực như thế nào? Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng thì cho rằng không phải Hoa Kỳ đưa ông Ngô Đình Diệm về nước chấ`p chánh mà chính là ông Bảo Đại đã làm công việc đó. Trong hồi ký Con Rồng Annam, Cựu Hoàng  Bảo Đại viết:
” Trước đây, đã dùng Diệm, tôi biết ông ta vốn khó tính. Tôi cũng biết ông ta rất cuồng tín và tin vào đấng Cứu Thế. Nhưng trong tình thế này, không còn có thể chọn ai hơn. Thật vậy từ nhiều năm qua, người Mỹ đã biết ông và rất hâm mộ tính cương quyết của ông. Trước mắt họ, ông là nhân vật đủ khả năng đối phó được với tình thế vì vậy Washington sẵn sàng hỗ trợ ông ta. Nhờ thành tích cũ và cũng nhờ sự có mặt của em ông đang đứng đầu Mặt Trận Đoàn Kết Cứu Quốc, ông lại được nhiều nhà quốc gia nồng nhiệt ủng hộ, các vị này từng làm đổ chính phủ Tâm và chính phủ Bảo Lộc.

Sau khi thảo luận với ông Foster Dulles, để  cho ông ta biết ý định ấy, tôi cho vời Ngô Đình Diệm và bảo ông ta:

  • Cú mỗi khi mà tôi cần thay đổi chính phủ, tôi lại phải gọi đến ông. Ông thì lúc nào cũng từ chối. Nay tình thế rất bi đát, đất nước có thể bị chia cắt làm đôi. Ông cần phải lãnh đạo chính phủ.
  • Thưa Hoàng thượng, không thể được ạ, ông ta đáp, Tôi xin trình Ngài là sau nhiều năm suy nghĩ tôi đã quyết định. Tôi định đi tu…
  • Tôi kính trọng ý định ấy của ông. Nhưng hiện nay tôi kêu gọi đến lòng ái quốc của ông. Ông không có quyền từ chối trách nhiệm của mình. Sự tồn vong của Việt Nam buộc ông như vậy.

Sau một hồi yênlặng, cuối cùng ông ta đáp:” Thưa Hoàng thượng trong trường hợp đó tôi xin nhận trách nhiệm mà Ngài trao phó”

Không những thế, Hoa kỳ cũng không thực lòng ủng hộ ông và đưa ông vào tình thế` khó khăn vô cùng. Đại sứ Mỹ Donald Heath rồi sau là Đại sứ Collins đều  đề nghị chỉ xử dụng tạm thời còn sẽ phải tìm người khác và đề nghị 5 điểm để loại bỏ ông Diệm. Pháp cũng chống ông và xúi giục Quân đội dưới quyền Tướng Nguyễn Văn Hinh công khai chống Thủ Tướng. Cảnh sát thì do Bình Xuyên chỉ huy ngay cả lực lượng an ninh Phủ Thủ Tướng cũng do Bình Xuyên gửi đến.  Còn ngân sách cũng phụ thuộc vào  hệ thống tài chánh của Pháp vẫn còn điều hành ở Việt Nam. Ông Diệm lâm vào thế tứ diên thọ địch và dù vậy ông vẫn kiên quyết đòi Pháp phải rút đi và Việt Nam phải được độc lập.

Trong tình hình rối ren như thế, trong hội nghị giữa ba đại diện Anh, Pháp và Hoa Kỳ htì thủ tướng Pháp Mandes France đề nghị:” ta nên yêu cầu ông Bảo Đại chỉ định một đại diện ở ngay Việt Nam để thực thi quyền hành của ông ta. Đại diện này sẽ ở địa vị một” phó vương”( Viceroy) và có toàn quyền hành động. Thủ tướng Anh Eden cũng tuyên bố:” sẽ là một sự lầm lỡ nếu ông Bảo Đại trở về Việt nam nhưng vì người Việt nam vẫn còn tôn trọng truyền thống về quân chủ nên bằng cách này hay cách khác phải có ngay một Uy Ban Hoàng Gia theo với một hình htức nào đó vì đây là một giải pháp tốt nhất để ra khỏi bế tắc hiện nay”.và sau đó thủ tướng Anh đề nghị Nam Phương Hoàng hậu làm phó vương. Và Thủ tướng pháp cũng hùa theo ủng hộ ý kiến này . Nhưng  Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Dulles thì không đồng y và cho rằng giải pháp như thế chỉ làm rắc rối thêm chứ khng giải quyết được gì. Tuớng Ely còn đề nghị ba người khác thay thế ông Diệm là các ông Nguyễn Văn Tâm, Nguyễn Hữu Trí, Phan Huy Quát. Nhưng sau cùng, ngoại trưởng Dulles dứt khaot tiếp tục ủng hộ ông Diệm và bác đi giải pháp Nam Phương Hoàng Hậu làm phó vương.

Đằng sau sự thành công của cuộc di cư hơn một triệu người từ miền Bắc vào Nam,TT Eisenhower nhìn trước về cuộc tổng tuyển cử năm 1956 theo những điều khoản của hòa ước Genève năm 1954 chia đôi Việt Nam. Sự lượng định cho rằng Hà Nội sẽ có thể chiếm được 80% số phiếu. Đó là vì dân số ở miền Bắc đã đông hơn miền Nam rồi lại cộng thêm số phiếu của những người theo Cộng sản ở miền Nam. Vào thời điểm ấy, dân số miền Bắc  vĩ tuyến 17 là 13.6 triệu người và dân số miền nam là gần 12 triệu cách xa nhau 1,6 triệu người tứ là trên 6% tổng số toàn dân. Bởi vậy Hoa Kỳ khuyến cáo chính phủ Sài Gòn phải tìm mọi cách để di chuyển thêm số dân từ Bắc vào để ít nhất cũng cân bằng dân số hoặc nhiều hơn thì càng tốt. Một chiến dịch lấy tên là Passage to Freedom ( sang phía tự do) được phát động với hai mục tiêu chính: tác động  để khuyến khích cho thật đông người di cư từ Bắc vào và thứ hai là vận động công luận thế giới yểm trợ tối đa cho công tác này. Về số người di cư, ông Landsdale đặt ra mục tiêu là phải thúc đẩy và chuyên chở được khoảng hai triệu người. Nếu  với kết quả như vậy thì miền Nam có dân số nhiều hơn miền Bắc Dân số miền Bắc lúc ấy là 13.6 triuệu nếu di chuyển vào Nam 2 triệu thì chỉ còn 11.6 triệu trong khi dân số miền Nam sẽ tăng lên 14 triệu. Cuối cùng thì số người di cư chỉ có 1 triệu nghĩa là  chỉ đạt phân nửa con số dự trù. Hoa kỳ cũng yểm trợ tối đa công việc định cư  1 triệu người tị nạn Cộng sản viện trợ tài chánh để trợ cấp cho người di cư sinh sống thời gian đầu rồi tài trợ ngân sách khẩn hoang lập ấp cùng với viện trợ kỹ thuật và hàng trăm chiếc máy ủi đất.  TT Kennedy đã viết thư cho TTNgô Đình Diệm tán dương :” Thành tích mà Ngài đã đạt được để đem lại niềm hy vọng mới, nơi cư trú và sự an ninh cho gần một triệu người lánh nạn Cộng sản từ miền Bắc đã nổi bật như một trong những nỗ lực đáng được tán dương nhất và được điều hành tốt nhất trong thời đại hiện nay”.

Trong bố cục gồm 7 phần của cuốn sách Khi  Đồng Minh Nhảy Vào từ Miền đất xa lạ thành địa điểm chiến lược, Tiếng gọi sang phía tự do, khi đồng Minh Nhảy vào, Chọn nơi đọ sức, Đường về nghĩa trang, Tôi sẽ không để mất Việt Nam và cập nhật cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy,  có người hỏi rằng tác giả có khi nào viết với  chủ quan của một người làm chính khách và có phần nào ông viết với khách quan của người biên soan sách lịch sử? Trả lời câu hỏi ấy,  phần đông là ông viết với cái nhìn khách quan, căn cứ vào những trang tài liệu đã có để gạn lọc. Còn  hình như ông tự nhận mình chỉ là một giáo sư đại học hơn là một chính khách. Ông tham chính vì nhận thức được trách nhiệm của một người trí thức muốn gánh vác việc nước trong khả năng của mình hơn là  tham chính vì lý do danh lợi cá nhân.

Nhưng kinh nghiệm của một  người đã quen thuộc với sinh hoạt chính trị của cả Hoa kỳ lẫn Việt Nam đã  giúp ông rất nhiều trong việc nhận định cũng như nghiên cưú các tài liệu đã được giải mật để viết tác phẩm này. Với chủ đích là đi tìm sự thực lịch sử qua những tài liệu ông vượt qua được những thiên kiến  mà Daniel Elberg đã có khi phổ biến  trên New York Times The Pentagon Papers. Ông ta xử dụng  tài liệu với chủ quan của người phản chiến  nên sự chọn lựa và gạn lọc không được khách quan và vì thế tạo cho người đọc những cảm quan không chính xác và không phù hợp với tài liệu nguyên thủy.