CHƯƠNG 1

Chợt Đến Rồi Chợt Đi

Những Cơ Duyên Lịch Sử

Năm 1995 – hai mươi năm sau cuộc chiến khốc liệt – Bộ trưởng Quốc Phòng Robert McNamara nhận xét: “Khi bàn đến vn đ Vit Nam, chúng tôi đã thiết lp chính sách cho mt min đt xa l. Thật vậy, cho đến đầu thập niên 1960 đại đa số nhân dân Mỹ đều không biết tới Việt Nam. Họ chỉ nghe đại khái có nước Annam bên Đông Dương, một thuộc địa của Pháp ở Á Châu cũng như những thuộc địa khác ở Phi Châu.

Tuy nhiên, từ ba thế kỷ trước, Việt Nam và Hoa Kỳ cũng đã có những cơ duyên lịch sử để gần nhau. Thật đáng tiếc rằng những cơ duyên ấy đã chợt đến rồi chợt đi. Tới khi hai bên gần nhau thì sự gặp gỡ lại xảy ra trong một tình huống hoàn toàn khác.

[Lưu ý đc gi: trong bài din văn ca Tng thng Barrack Obama đc tài Hà Ni ngày 24/5/2016 vừa qua, ông có nói tới những cơ duyên lịch sử Mỹ – Việt như TT Thomas Jefferson muốn tìm gạo Việt Nam (xem KĐMNV, trang 18-19); thương thuyền của Mỹ đã cập cảng Việt Nam, tìm kiếm cơ hội giao thương (đó chính là con Tầu Fame cập Đà Nẵng năm 1802 – xem KĐMNV, cuối trang 19-đầu trang 20); Việt Nam đã đứng về phía Mỹ trong Thế chiến II (xem KĐMNV, đầu trang 41), và còn những điểm giống nhau khác nữa như đã viết trong cuốn sách này và chúng tôi sẽ viết rõ hơn trong một bài khác].

***

Mùa Thu năm 1958, chúng tôi tham dự một cuộc họp Hội Sinh Viên Quốc Tế Đại Học Virginia. Mỗi người phải đứng lên để tự giới thiệu. Sau khi nói đến tên và ngành học, chúng tôi nói đến quê hương mình:

–“Tôi là người Việt Nam bên Đông Dương (Indochina).”

–“Ý anh muốn nói là ‘Đông Pháp’ (French Indochina) phải không,” một sinh viên Mỹ

ngắt lời hỏi.

–“Tên Đông Pháp là trước đây, bây giờ là Đông Dương, anh ạ.” Chàng sinh viên coi bộ         không hiểu.

Cho tới đầu thập niên 1960, nhiều người Mỹ còn gọi nước ta là An Nam, một miền đất thật xa lạ đối với họ. Năm 1784, ông Robert Morris, một thương gia ở Philadelphia đóng chiếc tầu lớn lấy tên là Empress of China lần mò sang tới mãi Viễn Đông. Tầu này đi qua Việt Nam rồi tới Quảng Đông. Khi trở về Mỹ được Quốc hội khen ngợi là đã thành công trong việc mở đường giao thương với Trung Quốc. Từ đó có nhiều tầu Mỹ khác cũng sang Á Đông nhưng chỉ buôn bán với Trung Quốc và Xiêm La (Thái Lan), ít để ý tới xứ An Nam. Xa xưa, người Mỹ còn lẫn lộn ‘Tonkin’ và ‘An Nam’ là điạ hạt thuộc ‘ tỉnh Giao Chỉ ở miền nam nước Tầu.’[1] Đối với các nhà lãnh đạo Mỹ hồi đó, Việt Nam chỉ là một miền đất trừu tượng (a geographical abstraction). Nó chỉ là tên của một trong những thuộc địa của các cường quốc Âu Châu chứ không có gì quan trọng vì Mỹ chẳng có liên lạc chính trị, kinh tế, thương mại, hay du lịch gì ở nơi đây. Nhưng tuy là xa lạ, Việt Nam và Hoa Kỳ cũng đã có những cơ duyên lịch sử rất quý báu để có thể gần nhau:

  • Thế kỷ 18: Hoàng tử Cảnh gặp Sứ Thần Mỹ tại Pháp, ông Thomas Jefferson.
  • Thế kỷ 19: Sứ Thần vua Tự Đức là Bùi Viện lần mò tới tận Washington cầu viện để chống Pháp.
  • Thế kỷ 20: TT Mỹ Roosevelt đã cố gắng giúp Việt Nam được độc lập.

Hoàng Tử Cảnh gặp Đại Sứ Jefferson

Năm 1785 ông Nguyễn Phúc Ánh (sau này là vua Gia Long) gửi người con đầu lòng mới lên năm tuổi tên là Nguyễn Phúc Cảnh hay ‘Hoàng tử Cảnh’ cùng đi với Giám Mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine, 1741 -1799) sang Pháp cầu viện. Ông được triều kiến vua Louis 16 vào ngày 5 tháng 5, 1787 tại điện Versailles. Thấy cậu bé khôi ngô và thông minh, Hoàng hậu Marie Antoinette rất yêu quý và các bà cô trong triều đình ai ai cũng chăm chú để ý. Người uốn tóc nổi tiếng Leonard thấy vậy nên thiết kế ngay một mẫu tóc đặc biệt để “vinh danh Hoàng tử Xứ Nam Kỳ.” Một bức chân dung thật đẹp của Hoàng tử được Họa sĩ Maupérin vẽ để trưng bày tại Viện Truyền Giáo Paris. Cậu bé rất vui vẻ, chơi đùa với cả con Vua Louis XVI là Louis-Joseph, Thái tử Nước Pháp. Nghe tin có Hoàng tử Nam Kỳ đang ở Paris, Sứ thần Mỹ là Thomas Jefferson sắp xếp để gặp gỡ. Ông Jefferson là người đã viết ra bản ‘Tuyên Ngôn Độc Lập’ của Hoa Kỳ và sau này làm tổng thống nổi tiếng. Ngoài chính trị, ông vừa là một triết gia, một nhà ngoại giao, khoa học gia, người sáng chế và một nhà giáo dục. Đặc biệt, ông rất để ý về canh nông và muốn nhập cảng những loại gạo tốt vào vùng South Carolina và Georgia. Khi đọc cuốn sách ‘Voyages d’un Philosophe’ của Pierre Poivre viết về những cuộc du hành ở Đông Nam Á Châu, ông thấy có nói tới một loại giống lúa khô ở vùng Nam Kỳ (Đàng Trong) nên để ý ngay.[2] Ông được Hoàng hậu Marie Antoinette giới thiệu làm quen và nhờ cậu khi nào về nước thì cung cấp cho mình một ít giống lúa để trồng ở vùng Carolina. Lúc ấy ông Jefferson đang cố đi tìm một loại lúa khô để thay thế cho loại trồng trên ao hồ sình lầy ở miền Nam nước Mỹ, dễ sinh ra nhiều tật bệnh. Ngày 13 tháng 1, 1788, ông viết cho William Drayton, Chủ tịch Hiệp Hội Canh Nông ở South Carolina: “Loại gạo khô ở xứ Nam Kỳ trông thì trắng nhất, ngửi thì thơm nhất và năng xuất lại cao nhất.” Sau khi gặp cậu Hoàng tử, ông viết thêm:“Tôi có rất nhiều hy vọng sẽ nhận được một ít hạt giống lúa cạn từ Xứ Đàng Trong vì một vị hoàng tử trẻ của xứ Cochin-China hiện đang có mặt tại Pháp, đã hứa hẹn một cách chắc chắn với tôi rằng ông ta sẽ cung cấp cho tôi loại lúa đó…” [3] 

Chẳng may, khi trở về nước, hoàng tử Cảnh đã chết vì bệnh đậu mùa vào năm 1801 khi mới lên 22 tuổi. Năm 1801 là năm vua Gia Long thống nhất sơn hà cũng lại là năm ông Thomas Jefferson lên chức Tổng thống Hoa Kỳ. Trong khung cảnh lịch sử ấy, nếu như Hoàng tử Cảnh đã không chết thì chắc là ông đã gửi lúa giống sang Mỹ cho Tổng thống Jefferson. Từ đó hai bên Mỹ – Việt đã có những quan hệ tốt đẹp ngay từ cuối Thế kỷ 19. Nếu như vậy thì vận mệnh nước Việt Nam đã có thể khác hẳn rồi?

Một năm sau (1802), chiếc thương thuyền Hoa kỳ đầu tiên tên là Fame có ghé Vịnh Tourane (Đà Nẵng) và thuyền trưởng Jeremiah Briggs đã từ Faifo (Hội An) lần mò ra tới tận Huế với mục đích xin phép nhà vua để được buôn bán với Việt Nam. Nhật ký Briggs ghi lại về những quan sát ấn tượng của ông ở Huế: nhà vua, thành nội, các cung phi, đàn voi, lính cận vệ. Chắc là thấy con mình đã nói nhiều về nước Mỹ nên Vua Gia Long nhờ một cố đạo người Pháp đến gặp ông Briggs và hỏi thăm về nước Hoa Kỳ. Rồi nhà vua cũng cho phép ông được buôn bán. Nhưng vì có bão lớn, tầu Fame đã nhổ neo rời Tourane (Đà Nẵng) quá sớm, và sau đó thì hai nước Mỹ-Việt cũng vẫn chỉ là hai thế giới xa lạ.[4]

Vua Tự Đức gửi Sứ Thần đi Mỹ cầu viện chống Pháp

 “Các ngài có thể nào thuyết phục những người bạn Âu Châu của các ngài ngừng xâm chiếm nước tôi được không?” vị sứ thần hỏi. Người Mỹ thì không biết tới nước ta chứ bẩy mươi năm sau chuyến viếng thăm của thuyền trưởng Briggs, khi Pháp bắt đầu đem quân vào đánh phá, đầu thập niên 1870 vua Tự Đức đã gửi sứ thần Bùi Viện qua ngả Hồng Kông đi cầu cứu Mỹ. Mặc dù ngàn trùng xa cách, phương tiện giao thông khó khăn, vị Sứ Thần cũng đã lần mò được tới tận Washington để tiếp xúc với chính phủ của Tổng Thống Ulysses Sympson Grant. Tổng Thống Grant là một anh hùng trong cuộc nội chiến Bắc-Nam. Khi Tổng Thống Lincoln chỉ định ông làm Tư Lệnh miền Tây Tennessee và Bắc Mississippi, ông đã thắng nhiều trận lớn. Nhưng ông chỉ biết nhiều về quân sự chứ nào có biết tới nước An Nam ta ở đâu. Bởi vậy câu trả lời của chính phủ ông dĩ nhiên là “không.” Trên đường trở về nước, vị sứ thần dừng lại ở Yokohama, Nhật Bản để gặp Lãnh Sự Mỹ. Hai người bàn bạc và đồng ý rằng một ngày nào đó chắc chắn Hoa kỳ sẽ liên can lớn tới Á Châu. Khi từ biệt, sứ thần Việt Nam làm một câu thơ nói lên tâm tư của mình về hai nước:[5]

 “Là bạn đồng hành,

 Nhưng tới năm nào chúng ta mới ngồi chung trên một con thuyền?”

Tới năm nào thì lúc đó chẳng ai biết, nhưng không được Mỹ giúp thì ngay năm sau, Pháp đã hoàn tất việc thôn tính thuộc địa. “Nước An Nam công nhận và chấp nhận nền bảo hộ của nước Pháp,” đó là điều khoản Thứ I của Hiệp Ước Bảo Hộ ký ngày 6 tháng 6 năm 1884 giữa ‘Chính phủ Đại Nam Hoàng Đế và Chính phủ Cộng Hòa Pháp Quốc.’ Đại diện cho Pháp là ông Jules Patenôtre, bởi vậy cũng gọi là Hiệp ước Patenôtre.

Nhưng rồi trong Thế chiến II, mẫu quốc thua xiểng liểng. Ngày 10 tháng 5, 1940, Hitler tấn công khu rừng Ardennes, chọc thủng tuyến phòng thủ Maginot, và chỉ 42 ngày sau quân đội Đức đã diễn hành trên Đại lộ Elysées. Một lá cờ Nazi thật bự treo ngay trên ‘Khải Hoàn Môn’ (Arc de Triomphe).

Thoát chết ở Ardennes, tướng de Gaulle chạy sang hoạt động ở bên Anh. “Nước Pháp không cô đơn, Nước Pháp không cô đơn…Nước Pháp còn có một đế quốc rộng lớn ở sau lưng.[6] Sau Luân Đôn, de Gaulle lập thủ đô Nước Pháp Tự Do (France Libre) tại Fort Lamy (nước Chad bên Phi Châu), rồi tới Douala (nước Cameroon), Brazzaville (Congo), và Libreville (Gabon). (Chúng tôi xin mở ngoặc ở đây là khi làm việc và đi công tác cho Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế tại Phi Châu từ giữa thập niên 1960, tác giả cũng đã được thăm viếng các nơi này và được hướng dẫn đi xem tận nơi những bản doanh cuả

De Gaulle). Đế quốc Pháp mà de Gaulle nói tới bao gồm các thuộc địa từ Phi Châu tới Đông Dương. Riêng về Đông Dương thì lúc ấy Pháp đã bị Nhật lật đổ hoàn toàn (ngày 9 tháng 3, 1945).

 Ngày 6 tháng 6, 1944 (ngày ‘D-Day’) quân đội Đồng minh đổ bộ vào Normandie rồi tiến thật nhanh về Paris, giúp cho de Gaulle diễn hành vào thủ đô ngày 25 tháng 8, 1944. Đi qua Khải Hoàn Môn, trông ông rất tự hào.

Vừa khôi phục được giang sơn, de Gaulle đã tính ngay tới chuyện phục hồi thuộc địa, yêu cầu Mỹ và Anh chấp nhận quyền cai trị của mình tại Đông Dương khi chiến tranh kết thúc.

Tổng Thống Roosevelt muốn giải thoát Đông Dương nhưng Thủ tướng Anh Churchill phản đối

“Nước Pháp đã vắt sữa Đông Dương một trăm năm rồi. Người dân Đông Dương xứng đáng được đối xử tốt hơn,” TT Roosevelt viết trong một bản ghi nhớ gửi Ngoại trưởng Hull khi thấy Pháp muốn lấy lại thuộc địa. Tổng Thống Roosevelt là một vĩ nhân của nước Mỹ. Người duy nhất đã làm Tổng Thống bốn nhiệm kỳ. Ông đã có những sự nghiệp to lớn, nhất là lãnh đạo quốc gia qua cơn khủng hoảng kinh tế trong thập niên ba mươi. Ông là tổng thống Mỹ đầu tiên để ý tới Đông Dương với lòng nhân ái, thực tâm muốn chấm dứt chế độ thuộc địa.[7]

Ngay từ khi Thế Chiến II đang tiếp diễn, tại cuộc họp tay ba đầu tiên giữa Anh, Mỹ và Nga tại Tehran thủ đô Iran (từ 28 tháng 11 tới 1 tháng 12, 1943), ông đã nói với Thống chế Stalin về quy chế ủy trị (Trusteeship) cho Đông Dương, trao khu vực này cho một Ủy ban Quốc Tế đảm nhận để đi dần tới độc lập. Bản ghi nhớ cuộc họp ngày 28 tháng 11 ghi lại:[8]

“Khi Thống chế Stalin nói sẽ không để cho Pháp trở lại thuộc địa thì TT Roosevelt đã trả lời là ông ‘đồng ý một trăm phần trăm vì Đông Dương đã bị Pháp đô hộ tới 100 năm rồi nhưng người dân nơi đây bây giờ lại còn khốn cùng hơn lúc trước.’ (Tại cuộc họp Cairo) khi ông Tưởng Giới Thạch nói ‘Trung Quốc không có ý đồ gì nhưng cho rằng nhân dân Đông Dương chưa sẵn sàng để đi tới độc lập,’ thì TT Roosevelt trả lời: ‘khi Hoa Kỳ chiếm đóng Phi Luật Tân thì người dân ở đây cũng chưa sẵn sàng để độc lập, nhưng một khi cuộc chiến với Nhật chấp dứt thì độc lập sẽ được trả lại vô điều kiện cho Phi Luật Tân. Bởi vậy nên thành lập một quy chế ủy trị với nhiệm vụ chuẩn bị cho Đông Dương độc lập trong một thời gian nhất định từ 20 tới 30 năm.’ ”

TT Roosevelt đã cố thuyết phục Thủ tướng Anh là Winston Churchill dựa trên căn bản của ‘Hiến Chuơng Đại Tây Dương’ (Atlantic Charter) mà cả hai nước đã ký kết ngay từ năm 1941 (ngày 12 tháng 8). Theo hiến chương này, hai quốc gia đồng ý về việc “Tôn trọng quyền tự chủ của các dân tộc,” và vì vậy, “ước mong cho chủ quyền lãnh thổ và tự trị sớm được vãn hồi cho những dân tộc nào đã bị ép buộc phải mất đi.” Nhưng Hiến chương này chỉ là lý thuyết, vì trong thực tế thì thái độ của chính phủ Anh đã khác. Tháng 11, 1942 khi Ngoại Trưởng Mỹ Cordell Hull đưa ra một bản dự thảo để hai nước Anh và Mỹ cùng tuyên bố về “Hiến Chương Đại Tây Dương và Nền Độc Lập Của Các Quốc Gia,” thì chính phủ Anh đã gạt phắt đi. “Ngoại Trưởng Anh đã thẳng thắn cho tôi biết rằng ông ta không thích bản dự thảo này,” ông Hull báo cáo với Tổng Thống Roosevelt,

Chữ ‘độc lập’ làm cho ông ta khó chịu, vì ông ta nghĩ đến hệ thống Đế Quốc Anh, nó cũng đã được dựa trên căn bản là chính sách về thuộc điạ.” [9]

Sau khi Thế chiến II kết thúc, hai nước Anh và Mỹ vẫn tiếp tục dính líu vào Đông Dương vì còn vấn đề giải giới quân đội Nhật ở nơi đây. Nhưng lập trường của hai nước hoàn toàn khác nhau. Mỹ thì chống đối việc Pháp muốn tái chiếm Đông Dương, nhưng Anh lại ủng hộ. Tại sao Anh ủng hộ? Đó là vì ngoài lý do là đồng minh thân hữu của Pháp, Anh lại còn phải đương đầu với các thuộc địa của chính mình ở Á Châu như Burma (Myanmar), Hồng Kông, Ấn Độ. Nếu ủng hộ nền độc lập của Đông Dương thì thuộc địa của Anh cũng sẽ nổi dậy, và thuộc địa của Hòa Lan là Indonesia sẽ theo sau. (Nhưng rồi Anh cũng phải để cho Ấn được độc lập – tháng 8, 1947, và Burma – tháng 4, 1948).

Thủ Tướng Anh Churchill đã biết rất rõ về ý định của Tổng thống Roosevelt muốn giải thoát chế độ thuộc địa nên ông căn dặn Ngoại trưởng Anthony Eden: “Trước khi chúng ta có thể chính thức đưa Pháp vào Đông Dương, chúng ta phải giải quyết vấn đề với Tổng Thống Roosevelt. Ông ta đã nói thẳng với tôi về vấn đề ấy hơn là về bất cứ vấn đề nào khác, và tôi nghĩ rằng một trong những mục tiêu của ông ta là giải thoát Đông Dương khỏi tay người Pháp” [10]

Tổng Thống Roosevelt ở vào thế kẹt. Một mặt thì muốn cho Đông Dương sớm được độc lập, mặt khác thì chính phủ Anh lại chống đối. Mà lúc đó thì Mỹ lại đang bận tâm về các vấn đề Âu Châu nên rất cần được chính phủ Anh cộng tác. Trong một bản ghi nhớ gửi Ngoại trưởng Hull ngày 24 tháng 1, 1944, TT Roosevelt nhắc lại: [11]

“Tôi đã gặp ông Halifax (Đại sứ Anh ở Washington) tuần vừa qua và nói thẳng với ông ta rằng thật đúng là từ hơn một năm nay, tôi đã có ý kiến rằng không thể trả lại Đông Dương cho Pháp được, và phải đặt nó dưới một chế độ Ủy trị quốc tế. Pháp đã chiếm đóng nơi này – với 30 triệu dân – tới gần một trăm năm rồi. Và bây giờ nhân dân bản xứ còn bết bát hơn là so với lúc ban đầu.

“Thực vậy, ý kiến cuả tôi được cả Tưởng Giới Thạch và Stalin ủng hộ. Tôi không thấy có lý do gì để nhùng nhằng với Bộ Ngoại giao Anh Quốc nữa. Lý do duy nhất để họ chống đối ý kiến của tôi là vì họ sợ ảnh hưởng tới những thuộc điạ của họ và của Hoà Lan. Chẳng bao giờ họ ủng hộ giải pháp Ủy trị, vì có những trường hợp nó sẽ dẫn tới độc lập. Trường hợp Đông Dương là đúng như vậy.

“Tuy mỗi trường hợp mỗi khác, nhưng riêng đối với trường hợp Đông Dương thì đã quá rõ ràng: Nước Pháp đã vắt sữa (milked) nó một trăm năm rồi. Người dân Đông Dương xứng đáng được đối xử tốt hơn.”

 Tại Hội Nghị Yalta ngày 8 tháng 2, 1945 (Yalta là một thành phố phía Nam Ukraine) khi ba cường quốc Mỹ-Nga-Anh nhóm họp ở Dinh Livadia bàn bạc chiến lược cuối cùng để đánh bại Đức và Nhật và vấn đề sắp xếp sau chiến tranh, TT Roosevelt lại nhắc đến quy chế ủy trị cho Đông Dương. Bản Ghi nhớ cuộc họp ghi: [12]

– Tổng thống Roosevelt nói với ông Stalin rằng ông cũng vẫn có ý định về quy chế ủy trị, nhưng Chính phủ Anh không chấp thuận quy chế này vì họ muốn trả lại Đông Dương cho Pháp, họ lo ngại rằng quy chế ủy trị sẽ ảnh hưởng tới Miến Điện (Burma, ngày nay là Myanmar). Ông thêm rằng người dân Đông Dương bé nhỏ giống như người Java và Miến Điện và không hiếu chiến. Pháp đã không làm gì để cho người bản xứ tiến bộ từ khi chiếm đóng thuộc địa. TT Roosevelt nói Tướng de Gaulle yêu cầu Hoa Kỳ cung cấp tầu bè để vận chuyển quân đội Pháp trở lại Đông Dương.

– Thống chế Stalin hỏi lại: “Tướng de Gaulle lấy đâu ra quân mà gửi sang Đông Dương?”.

– Tổng thống trả lời rằng “de Gaulle nói ông ta sẽ tìm đủ số quân khi Mỹ tìm đủ số tầu cho ông ta. Tổng thống thêm rằng “cho tới lúc này thì Mỹ chưa có thể tìm ra đủ số tầu.”

Trong cuộc họp báo sau đó vào ngày 23 tháng 2, 1945, Tổng Thống Roosevelt lại có ý kiến thêm về Đông Dương: [13]

–“Tướng de Gaulle vừa tuyên bố rằng Đông Pháp sắp sửa được giải thoát; như vậy là ai giải thoát, thưa Tổng Thống? ” nhà báo hỏi.

–“Đã tới hai năm rồi, tôi rất lo nghĩ về (vai trò của Pháp tại) Đông Dương,” ông Roosevelt trả lời. “Tôi có nói chuyện với ông Tưởng giới Thạch ở Cairo và ông Stalin ở Teheran: hai ông đều đồng ý với tôi (về vấn đề độc lập của các nước Đông Dương). Người Pháp đã từng ở đó cả trăm năm rồi. Và người Đông Dương cũng không giống như người Tầu.”

Được hỏi thêm về quan điểm là Đông Dương chưa đủ khả năng để tự trị, Tổng thống Roosevelt gạt đi: “Tôi có nói với ông Tưởng rằng cứ để cho Đông Dương hưởng chế độ ủy trị, rồi tìm một số người gồm một người Pháp, một vài người Đông Dương, một người Tầu, một người Nga, và có thể là một người Phi Luật Tân và một người Mỹ – để đào tạo cho họ về kỹ thuật hành chính. Chúng tôi phải mất 50 năm để làm như vậy ở Phi Luật Tân. Stalin thích ý kiến đó, Trung quốc thích ý kiến đó. Chỉ có Anh quốc là không thích. Vì nó có thể làm đổ vỡ đế quốc của họ: nếu Đông Dương đi tới độc lập thì rồi Burma cũng làm như vậy đối với nước Anh.”[14]

Nhận xét như vậy rồi TT Roosevelt đi tới kết luận: “Nhưng thôi, ý kìến này chỉ làm cho người Anh giận dữ thêm. Lúc này ta cứ im lặng là hơn.” Ngoài ra, vì lúc ấy lại còn nhu cầu thâu lượm tình báo ở Đông Dương cho quân đội Đồng Minh tiếp tục đánh Nhật, Mỹ cũng bị áp lực phải nhân nhượng Pháp.[15] Ngày 3 tháng 4, 1945, Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ Stettinius tuyên bố là Hoa Kỳ chỉ đề nghị chế độ ủy trị cho “những lãnh thổ nào tự nguyện đặt dưới quyền ủy trị,” ý muốn nói là để tùy Pháp có tự nguyện hay không.

Tuy nhiên, cùng một lúc (tháng 3, 1945), Tổng Thống Roosevelt lại vẫn ra lệnh cho Đại sứ Mỹ ở Trung Hoa và Tướng Albert Wedemeyer “phải theo rõi rất cẩn thận các hành động của Anh và Pháp vì hai nước này đang cấu kết với nhau để phục hồi thuộc địa.” Ngay trước khi ông từ trần, Roosevelt còn có ý định thiết lập một cơ quan chỉ huy thống nhất cho các lực lượng đồng minh tại Á Châu do tướng Wedemeyer chỉ huy. Ông cho rằng nếu viên chỉ huy lực lượng Anh ở đó bị đặt dưới quyền chỉ huy của tư lệnh Mỹ thì Anh sẽ không thể tự ý giúp Pháp quay lại Đông Dương mà không có phép của Mỹ.[16]

Vào lúc này thì ông Roosevelt cũng đã quá mệt mỏi sau khi làm Tổng Thống gần bốn nhiệm kỳ (trường hợp duy nhất trong lịch sử Hoa Kỳ). Nhiệm kỳ thứ tư lại phải đương đầu với Thế chiến thứ hai. Tại hội nghị Yalta vào tháng 2, 1945, ông bị áp lực của cả Anh, Pháp và nhiều thành phần ở ngay trong chính phủ Mỹ nên phải nhượng bộ: nguyên tắc ‘chế độ ủy trị quốc tế’ được thay bằng ‘chế độ ủy trị với điều kiện’ (có nghĩa là phải có sự đồng ý của Pháp).’

Sau hội nghị Yalta, ông Roosevelt về quê ở Warm Springs, Georgia để nghỉ ngơi và đã qua đời ngày 12 tháng 4, 1945. Nhiều học giả cho rằng nếu ông còn sống để đi dự Hội Nghị Postdam thì tình hình Đông Dương đã khác hẳn, vì ông sẽ không để cho Pháp chiếm lại thuộc địa, hoặc ít nhất, ông cũng giúp sắp xếp những bước đi để đưa Đông Dương tới độc lập. 16 Có lần Đô đốc Mỹ Mountbatten, Tư lệnh Quân đội Đồng Minh ở chiến trường Đông Nam Á đã nói thẳng với Tướng Leclerk, Tư lệnh Pháp,: Nếu TT Roosevelt còn sống thì không thể nào Pháp đã có thể trở lại Đông Dương được.[17]

Xem như vậy, ta thấy đã có bao nhiêu cơ duyên cho mối bang giao Việt – Mỹ, nhưng nó đã chợt đến rồi chợt đi. Riêng đối với cá nhân tác giả thì luôn nghĩ rằng Việt Nam ta đã có được một vận hội thật lớn khi Hoàng tử Cảnh gặp Sứ thần Jefferson tại Paris. Sở dĩ suy nghĩ nhiều về hoàn cảnh này vì chúng tôi là sinh viên Việt Nam đầu tiên theo học tại University of Virginia (UVA), một đại học do chính TT Jefferson tự thiết kế bản đồ rồi sáng lập khi ông về hưu (1809). Ngày ngày ông ngồi tại tư dinh trên đỉnh đồi Monticello (Charlottesville) lấy ống nhòm nhìn xuống khuôn viên đại học để quan sát. Nếu như Hoàng Tử cảnh không chết vì bệnh đậu mùa thì chắc thế nào sau khi cha ông thống nhất sơn hà ông cũng đã tìm cách gửi lúa giống sang cho TT Jefferson. Rất có thể ông Jefferson đã giúp đưa cậu hoàng tử sang học ở đại học do mình thành lập. Chúng tôi không thể không ước rằng sinh viên Việt Nam đầu tiên ở UVA đã là Hoàng Tử Cảnh. Độc giả có thể để cho trí tưởng tượng phiêu du suy nghĩ về tình huống này.

[1] William Appleman Williams và Thomas McCormick, eds., America in Vietnam – A Documentary History, trang 3,

[2] Mạng web <Monticello.org/site/house-and-gardens/rice> .

[3] Xem thêm Trần Đông Phong, “Hoàng Tử Cảnh Từng Gặp Thomas Jefferson,” Việt Báo Tết Đinh Hợi, 2007, trang 72-76.

[4] R.H. Miller, The United States and Vietnam 1787 – 1941, trang 14 – 16.

[5] Thomas D. Boetcher, Vietnam the Valor and the Sorrow, trang 10.

[6] Lê Xuân Khoa, Việt Nam – 1945-1995, Tập 1, trang 81.

[7] U.S Department of Defense, United States-Vietnam Relations, 1945-1967 – Tập 1, trang 14.

[8] Như trên.

[9] United States-Vietnam Relations, sách đã dẫn (sđd.), trang 19.

[10] Boettcher, sđd., trang 41.

[11] United States-Vietnam Relations, sđd., trang 14.

[12] United States-Vietnam Relations, sđd., trang 24-25.

[13] William Apple Williams, sđd., trang 31.

[14] William Apple Williams, như trên.

[15] United States-Vietnam Relations, sđd. trang 59.

[16] Boettcher, sđd., trang 42-43.

 [17] Boetcher, sđd., trang 46.

 

Bài trính dẫn trên BBC tiếng Việt: Tại sao TQ chưa dám đụng độ với Mỹ?